Đông y trong điều trị các bệnh lý

Ngày nay, bên cạnh sự phát triển vượt bậc của nền y học hiện đại (YHHĐ)  cùng với việc ứng dụng nhiều thành tựu khoa học – công nghệ trong công tác khám chữa bệnh thì y học cổ truyền (YHCT) vẫn giữ một vai trò quan trọng, nhất là trong việc phối hợp giữa đông y và tây y để điều trị cho người bệnh.

1.Bạn đã thực sự hiểu rõ về Y học cổ truyền?

Y học cổ truyền là phương pháp sử dụng các bài thuốc được lưu truyền từ xa xưa, trong đó các phương pháp trị liệu như xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt,… cũng đã được chứng minh về tính hiệu quả và an toàn. Trong thực hành lâm sàng, điều trị các bệnh lý cấp tính vốn là thế mạnh của YHHĐ, song YHCT lại rất hữu ích đối với người bệnh mắc bệnh mạn tính; di chứng do tai biến hoặc các bệnh lý rối loạn cơ năng. Chính vì thế, ở thời điểm hiện tại YHCT vẫn mang lại lợi ích đáng kể cho người bệnh. Sự phối hợp giữa YHHĐ và YHCT phù hợp sẽ mang lại hiệu quả rất tốt.

2.Các bệnh lý được phối kết hợp điều trị trong Y học cổ truyền

   – Các bệnh về xương khớp: thoái hóa khớp, thoái hóa cột sống, loãng xương, viêm khớp dạng thấp, thoát vị đĩa đệm, bệnh gout, viêm quanh khớp vai,…

   – Các bệnh về tiêu hóa: viêm đại tràng mạn tính, viêm da dày mạn tính, bệnh đại tràng chức năng, xơ gan do rượu còn bù,…

  – Bệnh về thần kinh: Di chứng liệt sau chấn thương; phẫu thuật cột sống; viêm tủy cắt ngang; viêm dây thần kinh ngoại biên; các di chứng liệt thần kinh ngoại biên (liệt thần kinh quay, thần kinh trụ, hội chứng ống cổ tay, đau thần kinh ngoại biên,…); Liệt một số dây thần kinh như liệt VII ngoại biên, liệt dây III, IV, VI; đau dây V; đau sau zona; hội chứng tiền đình…

  – Phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não: liệt nửa người, nói ngọng, rối loạn nuốt, bí tiểu,…

– Các chứng thần kinh thực vật: ra mồ hôi tay chân, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, rối loạn cương dương, rối loạn kinh nguyệt, mất ngủ,…

– Các bệnh chuyển hóa: béo phì; tăng mỡ máu; hỗ trợ điều trị đái tháo đường và các biến chứng thần kinh ngoại biên của đái tháo đường typ 2 (tê bì, viêm dây thần kinh..); tăng acid uric máu; hội chứng bệnh chuyển hóa (đái tháo đường, tăng mỡ máu, tăng acid uric),…

– Các bệnh hệ thận tiết niệu: sỏi thận tiết niệu không có chỉ định phẫu thuật (sỏi nhỏ < 1 cm), đái rắt, đặc biệt u xơ tiền liệt tuyến chưa có chỉ định ngoại khoa,…

– Các bệnh về tim mạch: hỗ trợ điều trị tăng huyết áp, rối loạn thần kinh tim, thiểu năng tuần hoàn não, hội chứng tiền đình, huyết áp thấp, suy tĩnh mạch, vữa xơ động mạch,…

Điều trị

Điều trị Đông y gồm có phương pháp châm cứu, các thuốc uống hoặc dùng ngoài da, và cả xoa bóp.

Phương pháp châm cứu dựa trên hệ thống kinh mạch được miêu tả chi tiết với hàng trăm huyệt trên cơ thể. Các huyệt và các đường kinh mạch có mối liên hệ với các tạng, phủ trong cơ thể, để điều trị các rối loạn ở tạng phủ nào, rối loại kiểu nào thì can thiệp vào các huyệt tương ứng và một số huyệt khác để hỗ trợ nếu cần thiết. Điều đặc biệt là hệ thống các huyệt, kinh mạch đó không thể dùng các phương pháp giải phẫu, sinh lý của Tây y để miêu tả được, tuy rằng trong thời đại ngày nay, châm cứu được sử dụng như một phương pháp gây vô cảm (gây tê) trong một số cuộc phẫu thuật (Đông Tây y kết hợp).

Thuốc Bắc là các vị thuốc được khai thác và bào chế theo sách của Trung Quốc truyền sang (và phát triển bởi các lương y người Việt). Thuốc Nam là các vị thuốc do các thầy thuốc khám phá trên lãnh thổ Việt Nam. Các vị thầy thuốc nổi tiếng được xem là bậc tổ của nghề y Việt Nam là Lê Hữu Trác (còn lưu truyền bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh là sách căn bản của Đông y Việt Nam) và Tuệ Tĩnh (tác giả của câu nói nổi tiếng “Nam dược trị Nam nhân” – thuốc Nam dùng chữa bệnh cho người Nam).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *